Chương 5
Người Giữ Cửa Đời Thứ Tám
1236 từ, khoảng 6 phút đọcTrưởng lão Hà Bá chống cây sào cá đi giữa hai cái bóng, mỗi bước để lại một vệt nước trên nền đá ướt. Lão dừng lại cách bàn lửa ba bước, quay mặt về phía dân làng đang co cụm trên gò, rồi làm cái việc mà cả đời lão tránh: lão nói to, không nhìn ai cụ thể, như thể xin tất cả cùng nghe.
"Khế ước hai trăm năm trước, ta giấu một điều khoản." Giọng lão khàn vì mưa. "Tổ tiên các ngươi không phải bên bị bức. Đời thứ hai, họ đắp bờ chắn dòng, bức khô đầm phía bắc, nơi Huyền Vũ nằm thở. Thần thú nể lời kết minh, không dậy. Nhưng giao kèo rạn từ hôm ấy. Điều khoản vật tế là do bên kia viết thêm vào sau — để phòng ngày nhân gian thất tín."
A Lan nghiêng người, thì thào sát vai Vân Phàm: "Cả làng tính bán nó. Giờ đến lượt lão bán chính mình." Nàng không rời mắt khỏi chiếc mai đen đang đội nước sau tường thành.
Dưới hồ, cái đầu rắn chậm rãi hạ xuống ngang kỳ đài. Giọng Huyền Vũ vọng lên qua xương, qua mặt nước, qua cả nền đất rung:
"Nay văn tự đã thành tro. Cũ đòi một mạng. Mới hỏi bằng gì trả."
Triệu Minh Đường bước lên một bước, chuỗi hạt đồng lăn trên cổ tay. "Bản tọa vẫn giữ lễ với thần thượng cổ. Chỉ e ngài chưa nghe hết phương án. Một thung lũng, đổi mười vạn dân chín châu. Người chín châu bỏ phiếu bằng lửa, bệ hạ Viêm Đình đã đóng ấn—"
"Ấn của ông đóng lên đất của chúng tôi," Vân Phàm cắt lời. Chàng cắm đứng Ý Thủy xuống nền đàn, hai tay buông khỏi cán thương — tư thế kẻ vào trận bằng hai bàn tay không. Vai trái rỉ máu thấm xuống cổ tay áo, chàng không đưa tay lên bịt. "Nên ông định giá hộ nhà tôi. Tôi không phục lý đó, nhưng hôm nay không cãi lý. Hôm nay tôi báo giá."
Chàng ngẩng lên nhìn con mắt vàng.
"Mạng người không nằm trong hàng hóa. Ông ấy muốn dâng thung lũng, tôi không cho. Ngài ấy muốn đòi vật tế," chàng chỉ về phía hồ, "tôi cũng không cho. Cái tôi có, và cái cả hai bên đều đang thiếu, là một người đứng ở cửa. Cha tôi đứng hai mươi năm dưới đó. Ông nội nàng đứng sáu mươi năm bên bến. Để tôi đứng tiếp, đời thứ tám."
"Hà Bá đời đời cử người giữ cửa," Vân Phàm nói tiếp, lần này quay sang phía quân hai đế quốc. "Nhưng kênh dẫn hồng thủy thì hai nước cùng đào. Linh mạch các ông hút phía nam cạn bao nhiêu, vết nứt chỗ tôi rộng bấy nhiêu — quốc sư, ông đọc luật thủy triều chưa mà định trị thủy bằng lửa? Đào kênh, trích linh mạch phân dòng về sa địa phía tây. Không đốt, không tế, không nhận nợ nữa."
Khoảng lặng. Nước mưa gõ lên mai Huyền Vũ như gõ vào đá cuội.
"Người giữ cửa đời trước," thần thú cất tiếng, "chết vì nhánh nứt mang tên ông ta. Ngươi chịu cái tên ấy?"
"Tôi chịu."
"Giá của ta," Huyền Vũ nói, "là lời hứa. Các ngươi sẽ bội lần nữa. Ta chờ được. Giống ta không còn mấy kẻ chờ được."
Rồi con mắt vàng hạ thấp hơn, quét riêng qua A Lan, như thể đếm lại một món đồ đã gửi giữ từ lâu. "Vảy trên ngực ngươi, ta đặt ở đó đêm mưa năm ấy, để nhân gian biết đường mà gọi, chứ không phải để đem ra bàn tế. Chìa khóa không bao giờ là vật tế."
Từ mép đàn, Lữ Thanh Ngạn cười khẽ. Tay thám tử áo tuyết giơ cao nửa mảnh vảy Mưa cướp được hôm trước, ngón cái tì lên mặt răng cưa — chỉ cần một nhịp linh lực nhỏ thả vào tín vật, con mắt vàng kia sẽ hoàn toàn tỉnh, và hai thần thú tranh nhau dậy là hai đế quốc khỏi đánh nhau nữa.
Mũi Ý Thủy cắm trên nền đá bật lên, xoay ngang, ghim xuống đúng mu bàn tay hắn. Không đâm xuyên — đỡ, chặn, giữ. Vân Phàm rút thương về, mũi nhọn nghỉ cách yết hầu hắn một gang.
"Tín vật đó không phải của ông," chàng nói nhẹ. "Cũng không phải của chúng tôi."
"Thả ra," một giọng khác vang lên — Huyền Vũ. Không lớn, nhưng mọi tiếng mưa đều ngừng một nhịp để nhường. "Vật của ta rơi, nhân gian nhặt hộ. Kẻ nhặt lần hai, ta ghi tên."
Lữ Thanh Ngạn nhìn mu bàn tay mình, rồi nhìn con mắt vàng. Hắn buông vảy, lùi ba bước, khoanh tay cúi đầu đúng nghi thức Bạch Lộ — lông trắng cài trên ngực áo hắn bay xuống nước, tín hiệu đình chiến, hoặc cáo lui. Sứ đoàn theo hắn rút về hướng bắc không ngoái lại.
Triệu Minh Đường là người cuối cùng lên tiếng. "Quốc sư không rút lời. Lý của bản tọa vẫn đúng, chỉ là hôm nay thua cuộc." Lão nhìn Vân Phàm lâu hơn cần thiết. "Cách giữ cửa của họ Cố, ta sẽ xem chạy được bao lâu. Rút đàn."
Trống tắt. Quân khiên mở đường. A Lan bước tới chân bàn lửa, nơi vảy lành Huyền Vũ vừa đặt xuống — chiếc vảy bằng cánh buồm, ấm như gạch nung. Nàng đọc câu kết của cổ thi tế thủy, giọng không còn run nữa: "...hồ không cạn, người không bức khô đầm." Vảy chìm xuống mặt nước, trôi theo dòng cũ về hang cửa ngòi, đúng nhánh nứt mang tên Cố Trường Xuyên. Khép lại.
Mưa đổi vị. Vân Phàm nếm được trước khi tin: mặn tanh biến mất đầu lưỡi, còn lại ngọt lợ của nước giếng mùa hè. Trên kỳ đài gãy, quầng đỏ phương Nam thu cánh, lùi dần về sau rặng núi, như kẻ trở mình tìm hướng ngủ khác.
---
Một năm sau, gò Đất Nung dựng hai dãy bàn dài bằng tre mới. Không đàn tế, không đuốc; dân Hà Bá đem cá khô và rượu nếp men hồ đến góp, trẻ con chạy quanh dấu móng thần thú còn lõm trong nền đá. Trưởng lão khắc bia cửa hồ bằng hai tay, nét chữ già run nằm cạnh dấu vảy đen ăn sâu vào đá như in bằng nước, mực chưa kịp khô. Chữ của A Lan được khắc nhỏ hơn, dưới cùng: "người đọc câu kết."
Tiểu đồng họ Triệu hôm ấy bê tráp cau sang tận bến, líu ríu kể công, bảo cậu chủ nhà nó dặn nếu họ Cố thiếu người khiêng kiệu thì cứ sai nó. A Lan bật cười cả buổi, còn Vân Phàm suốt lễ chỉ làm một việc: đứng chắn gió cho nàng, vai trái vẫn hơi nhô cao hơn bên phải, vết cũ chưa khép hẳn.
Tan tiệc, chàng cắm Ý Thủy xuống đất trước bia đá, mũi thương chúc xuống như người đặt đao nghỉ tay. Mặt hồ phẳng, không mưa ngược.
Xa ngoài khơi, trong lòng hồ Thương Lam tối, một con mắt vàng nữa khẽ mở, quét một vòng không thấy gì lạ, rồi nhắm lại.
Bình luận
0 bình luận và phản hồi đã được công khai.
Đăng nhập để bình luận, phản hồi, thích hoặc báo cáo nội dung.
Đăng nhậpChưa có bình luận
Hãy bắt đầu cuộc trò chuyện bằng một nhận xét cụ thể và tôn trọng.