Mục lục
Chương 2Vảy Đen Về Làng
MD

Chương 2

Vảy Đen Về Làng

1470 từ, khoảng 7 phút đọc

"Đứng lại. Cổng này chỉ dành cho người họ Cố."

Giọng A Lan vang lên sau lưng chàng, bình thản như đang đọc một câu cổ thi tế thủy thuộc lòng từ thuở nằm nôi. Nàng đứng chắn giữa cầu cọc, tay không, vai xuôi, nhưng ánh mắt thì đã cân nhắc xong ba đường lui của kẻ lạ.

Vân Phàm nhấc chân qua thanh gỗ đầu tiên. Vai trái giật lên một cái. Mùi tanh của linh vũ còn bám trong nếp vải. "Tôi về nhà mà bị chặn ở cổng làng," chàng nói. "Cậu Triệu mà thấy chắc cười thêm ba năm."

"Cậu Triệu ở tận Thương Ngô. Còn ở đây chỉ có tôi." Nàng bước xuống cầu, sát gót chàng. "Trưởng lão sai tôi áp giải cậu. Cậu đoạt suất thông qua, cả tộc bàn nhau hai ngày chưa xong chuyện vảy đen. Cậu đừng khiến tôi khó ăn Tết."

Thung lũng Hà Bá hiện dần sau khúc quanh, như mọi lần chàng về, và khác mọi lần chàng về. Ruộng bậc thang xếp vòng quanh sườn núi, mỗi bậc cắm một trụ đá hút sương linh; hôm nay những trụ đá ấy ướt sũng, nhỏ ròng ròng xuống mương, nước trong mương chảy ngược về phía hồ thay vì đổ ra đồng. Làng chài dựng trên cọc gỗ lim, thuyền nan buộc thành chùm dưới sàn. Trẻ con ngồi xổm bắt cua đá, ngẩng lên nhìn chàng rồi lại cúi xuống. Người lớn không ai nhìn. Họ đang kéo lưới, vá lưới, khiêng lu, tất bật theo cái nhịp im lặng của những xóm sắp mất mùa.

Chàng biết họ đang chờ gì. Chiếu chỉ từ phương Nam đã vào tới thung lũng trước chàng nửa ngày.

Trong từ đường, trưởng lão ngồi sau án thư, trước mặt là một mảnh vải phủ. Lão không phủ nhận, cũng không giải thích gì khi Vân Phàm nhắc tới cổng bắc thành Thương Ngô, tới bóng áo xám, tới mảng đen bóng lớn bằng cánh buồm thuyền nan tuột khỏi tay lão.

"Ta đưa nó đi cất," lão nói khàn khàn. "Cất chỗ mà Viêm Đình không đào được."

"Cất hay trao?"

Lão nhìn chàng rất lâu. Rồi lão vén mảnh vải.

Không phải chiếc vảy. Là một tấm da thú già đến mức hóa đá, vỡ làm ba, mép cháy xém, trên mặt chi chít chữ cổ khắc nông như vết móng. Trưởng lão đẩy về phía chàng một mảnh, ngón tay run của lão dừng ở dòng cuối cùng.

"Hai trăm năm trước, tổ tiên ta kết minh với thần thú dưới hồ. Hồ không cạn, đổi lấy lời thề: nhân gian không bức khô đầm, đời đời cử một người giữ cửa." Lão gõ xuống dòng chữ ấy. "Người giữ cửa đời trước là cha mày, Cố Trường Xuyên."

Mảnh da mỏng hơn lưỡi dao, mà chàng tưởng như nặng tới nghìn cân trong lòng bàn tay. "Cha tôi chết trận," chàng nói. "Bà con trong làng vẫn bảo vậy."

"Cha mày mất tích đúng vào năm có mưa ngược. Mày tự nối lấy hai việc đó đi." Lão rút mảnh da về, gói lại. "Viêm Đình gọi đây là tín vật của một con thú sắp chết. Chúng nó muốn nó. Đêm qua ta trao cho người tin cẩn nhất, sáng nay cả thành sẽ đồn ầm lên rằng Hà Bá giấu bảo bối. Mày về muộn một bước thôi."

Chuông đồng ngoài sân đình đổ. Không phải chuông báo họp, là chuông báo khách, ba tiếng, chậm, lịch sự, thứ lễ khí mà phương Nam dùng để tuyên bố rằng họ đến làm quan tòa chứ không làm đao phủ.

Sứ giả họ Ngụy vào đình với hai mươi tùy tùng, áo gấm đỏ viền kim tuyến giữa cái làng toàn màu tro này. Hắn không ngồi. Hắn giơ chiếu chỉ, giọng rành rọt từng chữ như đếm hạt chuỗi.

"Linh vũ đã bốc ngược được bảy ngày. Quốc sư Viêm Đình xem thiên văn, đoán Đại Hồng trong ba tháng sẽ vỡ. Hoàng thượng thương dân chín châu, mở cho các ngươi một con đường: nhường thung lũng Thương Lam làm trận địa tế vũ, toàn tộc được hộ tống vào thành, mỗi nhà một suất hộ tịch, cơm ăn ba năm. Đổi lại, Hỏa Chu tước sẽ thiêu rụi hồng thủy trước khi nó kịp chạm bờ đê."

Hắn gấp chiếu chỉ lại, đưa mắt quét đám dân làng. "Các ngươi giữ hồ hai trăm năm. Một thung lũng đổi cả thiên hạ. Lý lẽ đó mà cần ta nói hết sao?"

Có tiếng thở dài trước. Tiếng thở dài của bà hàng cá vừa mất đứa cháu đuối nước mùa trước, của những người đã quá mệt để cãi. Một lão ngư đứng dậy, chống tay vào gối: "Trời ạ, tế lửa thì ruộng mình thành tro. Nhưng ngồi đây đợi nước, thì sớm muộn gì chẳng thành cá chết trôi."

"Đừng vội," một người khác nói khẽ, và không ai nghe rõ anh ta nói đừng vội điều gì.

Vân Phàm đứng dựa cột đình, bàn tay lành đặt trên cán thương. Chàng không bước ra. Không phải vì sợ tội khi quân sứ giả, mà vì chàng chợt hiểu: nếu chàng nói lúc này, thiên hạ sẽ nghe theo thằng con của kẻ giữ cửa, và thế là lời thề hai trăm năm lại đè lên một cái tên họ Cố. Cha chàng đã sống đúng một kiếp như thế.

Tan buổi, A Lan chặn chàng ở bến nước.

"Cậu định nói gì trong đình?" nàng hỏi. "Nói rằng giữ lời thề? Lời thề đó ăn được không? Nó cứu được bao nhiêu người, hay chỉ cứu được danh dự của mấy ông trưởng lão?"

"Nói rằng tôi chưa nghĩ xong."

"Đàn ông các cậu giỏi nhất khoản trì hoãn." Nàng cúi xuống mặt nước. Linh vũ đọng trên ao nổi váng ánh xanh nhờ nhờ, thứ ánh sáng đẹp đến phát giận. "Ông nội tôi là người giữ cửa đời thứ sáu. Ông chết trong hang ngầm, không được một nấm mộ. Cha cậu là đời thứ bảy. Cậu biết tại sao bọn trẻ trong làng chế giễu cậu là con dòng nước cạn không? Không phải vì hồ sắp cạn."

"Vì gì?"

"Vì cả làng đều biết người giữ cửa thì không bao giờ được hưởng nước đầy." Nàng ngẩng lên, mắt ráo hoảnh. "Viêm Đình đốt thung lũng, hay Huyền Vũ ngập thung lũng, thì người chết vẫn là những người kéo lưới ngoài kia. Tôi áp giải cậu hôm nay không phải vì trưởng lão sai. Tôi muốn xem mặt thằng sẽ quyết định số phận cả làng."

"Chị xem được gì chưa?"

"Thấy một kẻ suốt hai canh giờ chỉ dựa cột." Nàng quay đi, rồi dừng lại, giọng thấp hẳn. "Nhưng kẻ đó không bước ra. Có lẽ thế cũng là một câu trả lời."

Đêm, chàng không ngủ được. Tiếng nước vỗ dưới sàn cọc đổi nhịp, không phải thủy triều, thứ nhịp nặng và chậm như trở mình. Chàng bước ra bến, và A Lan đã ngồi ở đó, như thể đợi sẵn, hoặc như thể cũng không ngủ được. Mặt hồ đen kịt trải tới chân trời, hơi lạnh bò lên từ nước mang theo mùi rong và mùi sắt.

"Cho cậu xem cái này," nàng nói, không quay đầu. Dây thắt ngực áo buông xuống. Trên xương ức nàng, một vết sẹo nổi lên, hình vảy cá, to bằng móng tay út, viền răng cưa đều đặn. "Năm tôi tám tuổi, tôi chìm ở cửa ngòi. Người ta vớt tôi lên muộn nửa canh giờ. Thầy thuốc bảo tim tôi đã ngừng."

"Ai cứu chị?"

"Nếu biết, tôi đã không khắc cái sẹo này vào ký hiệu gia phả." Nàng kéo áo lên, chậm rãi, như đóng lại một trang sách. "Hồ vừa kêu. Cậu nghe thấy không?"

Từ phía từ đường, ánh lửa hắt lên vách núi. Bóng trưởng lão in trên giấy cửa, lom dom, đang chất củi khô vào một chậu đồng, bên cạnh là gói da thú ba mảnh. A Lan đứng phắt dậy, mặt trắng bệch dưới ánh đuốc xa.

"Lão định đốt khế ước," nàng nói. "Tín vật mà cháy thì hai bên xóa sạch giao kèo. Không còn vật tế, không còn hộ phù. Hoặc lão điên, hoặc lão tính rằng thà để Viêm Đình trắng tay..."

Tiếng nước dưới chân cọc bỗng ngưng bặt. Cả mặt hồ im thin thít. Trong cái im lặng đó, từ đáy sâu Thương Lam vọng lên một tiếng trầm, ngắn, nặng, như cái trở mình của một kẻ ngủ hai trăm năm vừa nghe thấy ai đó bàn chuyện đốt giao kèo của hắn.

Bình luận

0 bình luận và phản hồi đã được công khai.

Chưa có bình luận

Hãy bắt đầu cuộc trò chuyện bằng một nhận xét cụ thể và tôn trọng.

Nghe truyệnChương 2: Vảy Đen Về LàngChưa có bản thu tiếng Việt
0:00 0:00

Sẵn sàng phát.